Công ty Cổ phần Sông Đà – Thăng Long (STL - HASTC)
Các chỉ số
|
29/07/2010
47,4
+0 (+0%)
|
Giá tham chiếu |
47,4
|
|
| Giá mở cửa |
45,5 |
| Giá cao nhất |
48,3 |
| Giá thấp nhất |
45,5 |
| Khối lượng |
47.700 |
| Giao dịch nước ngoài |
0 |
| Room nước ngoài còn lại |
487 |
Đơn vị khối lượng: 1000 VNĐ
Đơn vị khối lượng: 10 CP
|
| EPS 4 quý gần nhất (nghìn đồng) |
4,64 |
| Vốn hóa thị trường (tỷ đồng) |
677 |
| KLCP niêm yết |
10.000.000 |
|
| P/E |
14,58 |
| P/B |
17,37 |
| KLCP đang lưu hành |
10.000.000 |
|
|
Tên và địa chỉ công ty.
|
|
Tên pháp định
|
Công ty Cổ phần Sông Đà – Thăng Long
|
|
Tên quốc tế
|
SONG DA - THANG LONG JOIN STOCK COMPANY
|
|
Viết tắt
|
.
|
|
Địa chỉ
|
oà nhà Sông Đà, ngõ 165, đường Cầu Giấy, Phường Dịch Vọng, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội
|
|
Điện thoại
|
04 7672547
|
|
Fax |
04 7672547 |
|
Website
|
http://www.songdavillage.vn
|
|
Chi tiết
|
|
Lĩnh vực kinh doanh |
Xây dựng & Vật liệu xây dựng |
|
Ngành |
Xây dựng & Vật liệu xây dựng |
|
Vốn điều lệ |
100.000.000.000 VND |
|
Ngày niêm yết |
23/09/2008 |
Ban lãnh đạo.
| Ông Nguyễn Trí Dũng | Chủ tịch HĐQT |
| Ông Hồ Sỹ Hùng | Thành viên HĐQT |
| Ông Lại Việt Cường | Thành viên HĐQT |
| Ông Lê Phú Chiến | Thành viên HĐQT |
| Ông Nguyễn Duy Kiên | Thành viên HĐQT |
| Ông Cao Châu Tuệ | Phó Tổng GĐ |
| Ông Nguyễn Anh Tuấn | Phó Tổng GĐ |
| Ông Nguyễn Trường Giang | Phó Tổng GĐ |
| Ông Nguyễn Yên Sơn | Phó Tổng GĐ |
| Ông Nguyễn Đình Thuận | Kế toán trưởng |
| Ông Nguyễn Trọng Khánh | Trưởng BKS |
| Bà Nguyễn Đức Ngọ | Thành viên BKS |
| Ông Trần Việt Sơn | Thành viên BKS |
Lịch sử hình thành.
Tiền thân của Công ty Cổ phần Sông Đà – Thăng Long là Chi nhánh của Công ty Cổ phần Đầu tư – Phát triển Sông Đà được thành lập từ tháng 6/2005 hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh khai thác các dịch vụ về nhà ở, khu đô thị; các công trình thuỷ điện vừa và nhỏ; xây lắp các công trình dân dụng, công nghiệp… Tháng 9/2006 Công ty Cổ phần Đầu tư – Phát triển Sông Đà đã bán chi nhánh này cho Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Sông Đà 1 và trở thành Chi nhánh Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Sông Đà 1 tại Hà Nội. Ngày 05/12/2006 Công ty Cổ phần Sông Đà – Thăng Long chính thức thành lập theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103014906 ngày 05/12/2006 của Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Hà Nội trong lĩnh vực: Đầu tư, kinh doanh các dịch vụ về nhà ở, khu đô thị; Đầu tư, kinh doanh các công trình thuỷ điện vừa và nhỏ; Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi.... với vốn điều lệ là 25.000.000.000 đồng. Công ty đã tiến hành việc mua lại toàn bộ Chi nhánh Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Sông Đà 1 tại Hà Nội. Ngày 06/12/2006, Công ty đã tiến hành ĐHĐCĐ và thống nhất thông qua việc điều chỉnh vốn điều lệ góp lần đầu thành lập công ty từ 25 tỷ lên 40 tỷ đồng, thực hiện việc thu tiền góp cổ phần xong trước ngày 20/12/2006. Ngày 20/12/2006, Công ty đã hoàn tất việc góp vốn thành lập công ty với tổng số cổ đông là 171 cổ đông, tổng giá trị vốn góp là 40 tỷ đồng. Vì vậy, Công ty đã tiến hành thay đổi Giấy phép đăng ký kinh doanh nâng vốn điều lệ của Công ty lên 40 tỷ (theo Giấy phép đăng ký kinh doanh thay đổi lần 1 ngày 29/12/2006).
Lĩnh vực kinh doanh.
- Đầu tư, kinh doanh các dịch vụ về nhà ở, khu đô thị; - Đầu tư, kinh doanh các công trình thuỷ điện vừa và nhỏ; - Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, bưu điện, công trình kỹ thuật, hạ tầng đô thị và khu công nghiệp, công trình cấp thoát nước, công trình đường dây và trạm biến áp; - Sản xuất – mua bán vật tư, vật liệu xây dựng, thiết bị máy móc xây dựng (không tái chế phế thải, luyện kim đúc, xi mạ điện); - Vận tải vật tư, thiết bị ngành xây dựng và công nghiệp; - Sản xuất, mua bán điện; - Trồng rừng; - Khai thác đá, cát, sỏi, đất sét và cao lanh; - Mua bán thiết bị máy công nghiệp, nguyên vật liệu sản xuất ngành công nghiệp và các thiết bị ngành xây dựng; - Khai thác mỏ lộ thiên, khai thác và chế biến khoảng sản (Trừ loại khoáng sản Nhà nước cấm); khoan tạo lỗ, khoan cọc nhồi và xử lý nền móng; - Đầu tư, kinh doanh khách sạn, nhà hàng (Không bao gồm kinh doanh quán bar, phòng hát Karaoke, vũ trường); - Trang trí nội, ngoại thất; - Sản xuất bê tông thương phẩm và cấu kiện bê tông; - Kinh doanh vật tư, vật liệu xây dựng, thiết bị máy móc ngành xây dựng, đồ trang trí nội ngoại thất; - Tư vấn đầu tư xây dựng, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin; - Mua bán, lắp đặt thiết bị công nghệ thông tin, viễn thông, tự động hoá; - Đại lý kinh doanh xăng dầu và dẫu mỡ phụ; - Xuất nhập khẩu các sản phẩm hàng hoá Công ty kinh doanh; - Kinh doanh các loại dịch vụ phục vụ khu đô thị, khu công nghiệp; - Dịch vụ nhận uỷ thác đầu tư; - Dịch vụ quản cáo; - Lập dự án đầu tư các công trình kỹ thuật, hạ tầng đô thị đến nhóm A; - Lập dự toán, thẩm định dự toán các công trình dân dụng, công nghiệp, thuỷ lợi, thuỷ điện, giao thông, hạ tầng kỹ thuật đến nhóm A; - Quản lý dự án công trình xây dựng dân dụng, giao thông, hạ tầng kỹ thuật đô thị đến nhóm A.
Vị thế công ty.
Chiến lược đầu tư và phát triển.
- Từ những triển vọng phát triển của ngành như phân tích ở trên có thể thấy được định hướng của Công ty trong những năm tới tiếp tục phát triển hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản, đầu tư cơ sở hạ tầng... là hoàn toàn phù hợp với định hướng phát triển chung của ngành, cũng như chủ trương công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước của Việt Nam.
- Theo Chiến lược đô thị hóa của Nhà nước, nhu cầu xây dựng nhà ở đến năm 2010 phải đạt chỉ tiêu diện tích nhà ở bình quân 10-12 m2/người và đến năm 2020 là 18-20m2/người theo các chương trình phát triển nhà nhằm cung cấp các loại nhà ở phù hợp với các đối tượng xã hội có nhu cầu và mức thu nhập khác nhau. Theo xu hướng trên nhu cầu về nhà ở của Thủ đô Hà Nội trong những năm tới còn rất lớn, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững và ổn định của Công ty.
- Cùng với sự chuyển dịch nền kinh tế theo hướng thị trường và hội nhập nền kinh tế thế giới, chiến lược phát triển hệ thống các Khu công nghiệp Việt Nam được hoạch định trong sự phát triển tổng thể của nền kinh tế. Chính phủ cùng các cơ quan chủ quản đã có những định hướng chiến lược cho sự phát triển của ngành. Cụ thể tại quyết định số 1107/QĐ-Ttg ngày 21/08/2006, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp của Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020. Chiến lược này được chi tiết và cụ thể hoá cho các cấp tỉnh, địa phương căn cứ theo nguồn lực, khả năng, cơ cấu kinh tế trong vùng và các điều kiện khác. Vì vậy, có thể khẳng định rằng khả năng phát triển của ngành xây dựng và đầu tư vào khu công nghiệp là rất triển vọng đối tượng này được dự báo với xu hướng gia tăng mạnh trong thời gian tới.